Social Media Marketer tư duy như thế nào?

Bài viết sưu tầm.

Source: http://cleverads.vn/home/tin-tuc/554-social-media-marketer-tu-duy-nhu-the-nao.html

Bạn muốn thông điệp Marketing của bạn đến với càng nhiều người càng tốt, thương hiệu của bạn được càng nhiều người yêu mến và ủng hộ càng tốt, sản phẩm của bạn có càng nhiều khách hàng càng tốt… Để có được điều đó, chúng ta phải suy nghĩ lại những thông tin cần chia sẻ.


Tư duy của người làm Social Media Marketing

Bạn đã là một thành viên của mạng xã hội? Bạn có thể chia sẻ điểu gì bạn muốn, bạn viết điều gì bạn nghĩ với mục tiêu đơn giản là thể hiện con người, cảm xúc, quan điểm của mình. Và bạn cũng sẽ có những người bạn đồng điệu với bạn.

Trong cuộc sống, không phải là ta muốn có nhiều bạn mà ta muốn có những người bạn tri kỷ. Nhưng mục tiêu của Marketing thì lại khác. Bạn muốn thông điệp Marketing của bạn đến với càng nhiều người  càng tốt, thương hiệu của bạn được càng nhiều người yêu mến và ủng hộ càng tốt, sản phẩm của bạn có càng nhiều khách hàng càng tốt… Để có được điều đó, chúng ta phải suy nghĩ lại những thông tin cần chia sẻ.

Tim O’Reilly (O’Reilly Media) nói: “Social Media không phải để nói về bạn, về sản phẩm hay câu chuyện của bạn. Nó phải là việc tạo ra những giá trị cho cộng đồng mà có bạn trong đó. Nếu bạn muốn tạo ra những ảnh hưởng tích cực, hãy quên đi việc sẽ nhận được gì từ Social Media mà hãy nghĩ đến việc ta có thể mang lại điều gì cho cộng đồng. Càng nhiều giá trị bạn mang lại cho cộng đồng, thì sẽ càng nhiều lợi ích cộng đồng mang đến cho bạn”. Đúng vậy, để nhận được sự quan tâm của cộng đồng, hãy chia sẻ và đóng góp những thông tin có ích. Sự chia sẻ và đóng góp này chính là nền tảng của Social Media Marketing.

Hãy xem xét mô hình AISAS do Dentsu đề xuất

Hanh vi khach hang truoc day doi voi truyen thong tiep thi truyen thong

Hành vi khách hàng trước đây đối với truyền thông tiếp thị truyền thống

Ngày xưa, khi người tiêu dùng đơn lẻ tiếp nhận một thông điệp Marketing qua Mass Media sẽ qua các giai đoạn: Chú ý –> Thích thú –> Mong muốn –> Nhớ lại –> Hành động (mua hàng).

Internet đã làm hành vi con người thay đổi. Họ lên mạng tìm và so sánh món hàng họ muốn mua, từ đó đưa ra quyết định mua hàng, và sau khi đã sử dụng, với Social Media, họ sẽ chia sẻ trải nghiệm của mình với cộng đồng.

alt

Internet đã làm hành vi con người thay đổi

Tìm kiếm và Chia sẻ là hai hành vi phổ biến của người dùng Internet được ghi nhận trong mô hình này. Đây là 2 chữ S quan trọng nhất trong Internet Marketing (Search và Share). Trong khi Search Engine Marketing (SEM) dành cho chữ S đầu tiên thì Social Media Marketing chính là cho chữ S thứ hai (Share).

Một lưu ý quan trọng khác, trong khi các thông cáo báo chí của bạn trước đây rất phụ thuộc và các phương tiện truyền thông  và luôn mang tính chất một chiều, thì ngày nay, bạn có thể tự xuất bản bản tin của mình qua mạng cộng đồng miễn phí. Văn phong của các thông cáo trước đây cũng cần được thay đổi cho gần gũi và phù hợp với cư dân mạng. Thông điệp của bạn không phải gởi đi một chiều nữa mà là các mẫu đối thoại với khách hàng tiềm năng của mình. Sau một sự kiện, một bài viết, một nhận định, hãy theo dõi các phản hồi và trả lời họ… Đối thoại chứ không phải là độc thoại, đó là cách truyền thông hiệu quả hơn trong cộng đồng mạng.

Trên đây là một số gợi ý giúp bạn tiếp cận Social Media Marketing đúng hướng. Có thể bạn vẫn chưa thể bắt đầu một chiến dịch Social Media Marketing, nhưng bạn hoàn toàn có thể tiếp tục tự tìm hiểu các công cụ trên Internet để thực hiện các chiến dịch của mình.

Internet vẫn phát triển mỗi ngày, sẽ luôn có những công cụ mới chờ đón bạn khám phá.

Advertisements

[ Video ] Social Media 2013

Phiên bản thứ 4 trong loạt video về Social Media được xem nhiều nhất trên thế giới – Social Media Revolution của tác giả Erik Qualman ra lò.

Các nội dung chính trong video:

1. Hơn 1 tỷ người dùng Facebook

2. Nếu Facebook là một quốc gia, nó sẽ là quốc gia rộng thứ 3 của thế giới và có số dân gấp 2 lần dân số của nước Mỹ.

3. Hơn 50% dân số thế giới dưới 30 tuổi.

4. Mỗi ngày có thêm 20% các từ khóa tìm kiếm trên Google chưa từng xuất hiện trước đó.

5. Trong 10 năm, trên 40% của Fortune 500 không còn được ở đây. (Fortune 500 là bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ theo tổng thu nhập mỗi công ty. Nó là một chuyên trang của CNN. Hiện nay, đứng đầu vẫn là tập đoàn dầu mỏ khổng lồ Exxon Mobil với thu nhập gần 340 tỉ USD, do nhu cầu dầu mỏ của thế giới rất cao và giá dầu mỏ tăng mạnh.)

6. Social Media đã vượt qua khiêu dâm để trở thành hoạt động số 1 trên nền tảng web.

7. 1 trong 5 cặp đôi biết nhau qua online; 3 trong 5 cặp gay biết nhau qua online

8. 1 trong 5 cuộc ly dị được đổ lỗi do Facebook.

9. Chuyện gì xảy ra ở Vegas trên Youtube, Flickr, Twitter, Facebook….

10. Ford Explorer ra mắt trang Facebook và hiệu quả nó mang lại cao hơn nhiều so với quảng cáo Super Bowl (Super Bowl là giải bóng bầu dục trình độ cao nhất của Mỹ với hàng ngàn siêu sao tham dự. Chính vì vậy, giải đấu này có giá trị thương mại rất cao với số tiền trung bình cho 30 giây quảng cáo lên tới 3,01 triệu đô la Mỹ (dự kiến năm 2010). Từ đó, có một thuật ngữ trong ngành quảng cáo chỉ dùng để nói về các video được phát trong giải đấu này, đó chính là Super Bowl Ad.)

11. 69% các bậc cha mẹ cho biết hiện tai họ đang là “Friends” với con cái của họ trên mạng xã hội.

12. 92% trẻ em Mỹ có Digital Footprint (Dấu chân kỹ thuật số là các thông tin bạn cung cấp trên mạng để người khác lần mò ra bạn là ai ấy ^^)

13. Cứ 2 giây lại có một người tham gia Linkedin

14. Số người tham gia Linkedin mỗi ngày nhiều hơn số học sinh ghi danh các trường IVY League

15. Các game thủ trên mạng xã hội chi khoảng 6 tỷ USD vào việc mua hàng hóa ảo, trong khi đó số tiền mọi người đi xem phim chỉ khoảng 2,5 tỷ USD.

16. Mỗi phút có 72 giờ video được upload lên Youtube

17. Wikipedia được tổng hợp thành một cuốn sách với khoảng 2,25 triệu trang.

18. 97% người dùng Pinterest đến từ Facebook là phụ nữ.

19. 53% người dùng Twitter khuyên dùng sản phẩm trong các tweet của họ.

20. 90% mọi người tin vào những lời khuyên online.

21. Chỉ 14% người dùng tin vào các quảng cáo trên tivi.

22. New York nhận được 1 tweet về động đất trước 30 giây khi họ cảm thấy nó

23. 93% các marketer sử dụng Social Media cho công việc kinh doanh.

24. Lady Gaga, Justin Bieber và Katy Perry có số follower trên twitter nhiều hơn tổng dân số của Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi, Canada, Argentina, Anh, Ai Cập cộng lại.

25. “We don’t have a choice on whether we DO social media, the question is how well we DO it” – Erik Qualman – Dịch thế nào nhỉ?

26. “Social Media isn’t a fad, it’s a fundamental shift in the way we communicate.” – Erik Qualman – Social Media không phải là một cái gì đó thời vụ, nó là sự thay đổi cơ bản trong cách chúng ta giao tiếp.

27. “The ROI of social media is that your business will still exist in 5 years.” – Erik Qualman – ROI của Social Media là công việc kinh doanh của bạn sẽ vẫn tiếp tục trong 5 năm.

[Tổng hợp] Chụp ảnh Macro: các phương pháp và kinh nghiệm

Bài viết sưu tầm và tổng hợp thông tin từ các diễn đàn. Trong đó phần đầu cũng là phần quan trọng nhất được copy từ topic của bạn kimhuyen trên VnPhoto.

Source: http://www.phuot.vn/threads/22313-%E1%BA%A2nh-Macro-Nh%E1%BB%AFng-%C4%91i%E1%BB%81u-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n

Phần1: CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ ẢNH MACRO & CLOSE UP:

Ngay từ thuở nhỏ, chúng ta chắc ai cũng thích tìm tòi, săm soi các vật thể nhỏ, côn trùng, hoa lá…qua cái kính lúp nho nhỏ và ngạc nhiên thích thú khi phát hiện ra trong cái thế giới tí hon đó là cả một thế giới màu sắc lạ lùng, hình ảnh kỳ dị…Những hạt phấn hoa li ti những cái râu kiến …nhìn cũng rất là khác lạ qua cái kính lúp đó.

Thế giới trong ảnh Macro cũng vậy. Đầy màu sắc và đầy bất ngờ. Có những thứ rất bình thường nhưng khi được chụp phóng đại lên, nhìn thật bất ngờ và thú vị mà với mắt thường, chúng ta không thể thấy được.
Chụp cận ảnh hay chụp phóng đại là thể loại chụp ảnh mà chủ thể được đưa đến rất gần máy ảnh. Hình ảnh của chúng được phóng to lên một hay nhiều lần. Nếu phóng rất to thì chúng ta lại bước qua một thể loại khác : vi ảnh – là ảnh chụp qua kính hiển vi của các nhà khoa học thực hiện. Ở đây chúng ta chỉ bàn về thể loại Macro (và close up) thôi nhé!
Những chủ đề mà chúng ta áp dụng trong ảnh Macro hay nói khác đi là với thể loại ảnh Macro thì chúng ta chụp cái gì? Có một số chủ đề mà chúng tôi thường chụp như sau:

1. Thiên nhiên: hoa, lá, côn trùng, sâu bọ …
2. Chất liệu : Vải vóc, len …
3. Đá quí, nữ trang …
4. Bộ phận cơ khí, điện tử nhỏ.
5. Các bộ phận của động vật hay người.
6. Và còn nhiều thứ khác quanh ta nữa …

Những điều cơ bản khi bắt đầu:
1. Ánh sáng: nên chọn nơi có ánh sáng mạnh (với chủ đề thiên nhiên) vì khi chụp chúng ta thường đóng khẩu (sẽ nói rõ ở các bài sau) nên cần ánh sáng tốt. Các loại ánh sáng nhân tạo được dùng đến khi ánh sáng tự nhiên quá yếu.
2. Hướng của nguồn sáng, vị trí máy chụp.
3. Điểm tựa, tư thế.
4. Chọn khẩu độ và tốc độ thích hợp.
5. Cân chỉnh các thông số của máy.

Phần 2: CÁC CÁCH THỨC PHÓNG ĐẠI CHỦ THỂ – MACRO METHODS:

Mình tiếp tục ở phần các cách thức để phóng đại chủ thể nói nôm na là cách sử dụng ống kính và thiết bị khác kèm theo để chụp macro. Có nhiều cách nhưng cơ bản gồm:

1. Sử dụng ống kính chuyên dùng.
2. Đảo đầu ống kính.
3. Chụp ngược ống kính.
4. Dùng ống nối – Extension Tube và Extension Bellows.
5. Dùng teleconverter.
6. Close up Filter hay kính lúp.

Chúng ta đi từng bước nhé:

1. Sử dụng ống kính chuyên dùng: Các thương hiệu chính hay hàng FOR đều có các ống kính chuyên dùng để chụp macro:
Canon: 100mm f/2.8, 65mm f/2.8, 60mm f/2.8, 180mm f/3.5…

Các loại ống kính trên được thiết kế chuyên cho thể loại cận ảnh. Với loại này, khoảng cách cực gần từ chủ thể tới máy (tới mặt film hay sensor) rất gần. Điều này cho phép tối đa kích cỡ của chủ thể trên mặt film (hay sensor). Các loại OK trên cho tỉ lệ ảnh macro là 1:1. Một số hình ảnh từ các OK trên.
Do được thiết kế chuyên cho ảnh Macro, chất lượng ảnh rất trong và sắc nét. Nhưng thường thì các loại này chỉ dùng cho ảnh macro, nếu dùng cho mục đích khác không được hoàn hảo lắm. Thí dụ như nhiều người cho rằng OK Canon 100mm có thể chụp chân dung nhưng thực tế cho thấy độ bén không cần thiết cho thể loại này sẽ gây khó chịu khi gặp người mẫu có da mặt hơi … nhám, sẽ rất tốn công khi xử lý hậu kỳ.
Cũng có những OK khác cho phép vào gần chủ thể nhưng tỉ lệ là 1:2 hay hơn. Các loại OK này thì là tích hợp, không phải chuyên dùng nên chất lượng ảnh dĩ nhiên không bằng loại chuyên dùng.

2. Đảo đầu ống kính (stacking lenses): đây là phương án được sử dụng từ rất lâu. Các tay máy dùng một ống tele rồi sau đó dùng ống normal (50mm) có khẩu nhỏ (1.4 hay 1.8…) đảo ngược đầu ráp vào ống tele đó. Để nối hai OK lại với nhau, người ta dùng một khớp nối (adapter ring) để nối chúng lại. Ring đảo đầu có hai vòng răng tương ứng với kích cỡ của hai đầu hai ống kính đó. Phương pháp này tương đối rẻ tiền nhưng khá hiệu quả. Chất lượng ảnh tương đối tốt. Hạn chế của phương pháp này là khó canh nét, DOF rất mỏng. Về nguyên tắc thì ống kính đảo ngược có tác dụng như một thấu kính hội tụ, phóng lớn ảnh trước khi vào OK chính.

Để canh nét chúng ta xoay vòng lấy nét của ống thuận. Cách thứ hai là tịnh tiến máy vào chủ thể. Có lẽ cách thứ hai là dễ hơn vì việc lấy nét của cách đảo OK này rất khó, chủ thể thường sẽ nằm rất gần máy.

Chúng ta cũng có thể áp dụng phương pháp đảo đầu OK với máy P&S. Chế một ống tube gắn vào body máy P&S. Độ dài tube thích hợp sao cho khi zoom OK chính vẫn an toàn. Đầu tube kia gắn với ring đảo đầu mà tôi đã nhắc ở trên.
Độ phóng đại của cách này tương đối khá lớn. Chúng còn tuỳ thuộc vào tiêu cự của hai OK sử dụng. Chúng tôi nhận thấy độ phóng đại tỉ lệ thuận với tiêu cự OK thuận và tỉ lệ nghịch với tiêu cự OK ngược. Thông thường thì người ta dùng OK 50mm cho ống ngược nhưng có lần tôi dùng ống 28mm làm ống ngược thì độ phóng đại tăng lên nhiều nhưng ảnh sẽ bị đen rìa ngoài tạo thành ảnh hình tròn. Phải crop vuông ảnh lại ở hậu kỳ.

3. Chụp ngược ống kính: Cách này là dùng một vòng chuyển đổi (reverse ring) có một đầu gắn vào thân máy ảnh, đầu kia gắn vào phía trước của ống kính. Nguyên tắc cũng gần như cách thứ 2 đó là phóng to ảnh rồi đưa vào mặt film (hay sensor). Chất lượng ảnh nói chung không tốt. Hay bị mờ và tối ở 4 góc. OK phải có vòng đóng khẩu độ bên ngoài mới đóng được khẩu độ khi chụp.

Việc lấy nét cũng rất khó, chúng ta chỉ nên tịnh tiến máy vào chủ thể cho đến khi thấy ảnh rõ nhất. Ảnh thường sẽ rõ nhất ở tâm ảnh sau đó thì mờ ra phía bốn góc. Ảnh chụp xong phải crop lại cho cân đối.

Chụp đảo đầu OK hay chụp ngược ống kính thường chỉ giúp phóng đại ảnh. Việc bố cục sẽ diễn ra ở hậu kỳ là chủ yếu. Hai phương pháp 2 và 3 tuy không phải mất tiền nhiều để đâu tư nhưng rất tốn công khi chụp. Đòi hỏi người chụp phải hết sức kiên nhẫn. Chúng sẽ không thích hợp với những bạn mới tập chụp macro, dễ làm nản chí “Anh Hùng”.
Qua những tấm ảnh của các chuyên gia mà tôi đã từng được xem, tôi nhận thấy ảnh macro đẹp dựa trên những tiêu chí như sau: Ánh sáng, bố cục, màu sắc và quan trọng nhất theo tôi đó là việc khống chế DOF một cách hiệu quả. Hai cách chụp 2 và 3 nêu trên rất khó cho chúng ta kiểm soát DOF. Phải thật kinh nghiệm mới có thể có DOF khi dùng OK đảo ngược hay chụp ngược.

4. Dùng ống nối – TUBE: Ống tube chỉ là một ống nối rỗng. Một đầu gắn vào thân máy, đầu kia gắn vào đuôi ống kính. Nôm na ống Tube sẽ nằm giữa thân máy và OK. Nguyên tắc của ống nối là đưa hệ thống thấu kính của Ok ra xa bề mặt film, khiến ảnh của chủ thể to hơn. Phương pháp này cho phép đưa máy vào gần chủ thể (gần hơn khoảng cách cực cận của OK) điều này giúp ảnh được phóng đại trên bề mặt film nhưng cũng khiến cho khoảng rõ cực xa (vô cực) bị kéo lại gần tức là chúng ta không thể lấy nét khi máy nằm xa chủ thể.

Chất lượng ảnh xem như là đạt cao nhất so với các cách phóng đại khác vì ánh sáng từ chủ thể vào trực tiếp lên bề mặt film mà không qua một thấu kính nào khác. Ảnh sẽ chất lượng như dùng OK đó, chỉ có khác là DOF sẽ mỏng hơn.
Trong các cách phóng đại có trang thiết bị gắn thêm vào OK thì đều bị mất khẩu khi đo sáng. VớI ống tube, khẩu bị mất sẽ tỉ lệ thuận với chiều dài của ống tube. Thí dụ ống Tube 25mm sẽ bị mất 2 khẩu khi đo sáng. Người ta đã tính rằng nếu chiều dài của ống tube bằng với tiêu cự OK (focal length) thì ảnh sẽ có tỉ lệ thực tức là 1:1 hoàn toàn mang tính chất ảnh macro.

Nếu có thể chọn, chúng tôi khuyên các bạn chọn một OK có tiêu cự khá dài, cộng với tube dài chúng ta sẽ có thể có những sản phẩm đẹp hơn. Với OK dài (tele) chủ thể sẽ hút về ảnh, phông sẽ mờ đẹp và chúng ta có đủ khoảng cách cực cận (khi mà gắn tube ) dễ thao tác khi chụp hơn. Thí dụ như khi tôi gắn Tube 25mm vào ống 18-55mm, chỉ có thể lấy nét dễ dàng khi để ở tiêu cự từ 30mm đến 55mm; ở 18mm chủ thể gần như chạm vào mặt trước của thấu kính.

Với loại Tube cùng nhãn hiệu với thân máy sử dụng (hay là loại FOR cho đúng thân máy) thì máy có khả năng đo sáng và tự động lấy nét khi chụp (lưu ý là máy chỉ có khả năng lấy nét tự động khi khẩu dưới 5.6 – có nghĩa là với loại OK có độ mở 2.8, khi gắn các loại Tube dưới 25mm chỉ mất dưới 2 khẩu, máy có khả năng lấy nét tự động; trên nữa thì máy không AF được). Các loại Tube này có mạch nối tiếp liên lạc giữa thân máy và OK. Tuy nhiên với máy Canon, khi gắn tube khác nhãn/ không có mạch tiếp giữa thân máy và OK máy vẫn có khả năng đo sáng.

Sử dụng ống tube.Như các bạn đã biết. Khi gắn ống tube là chúng ta đưa hệ thống thấu kính ra xa mặt film khiến ảnh được phóng to ra hơn. Điều này cũng kéo theo việc đưa lỗ hở của khẩu độ ra xa mặt film – việc này làm ảnh sẽ bị mờ đi.
Không phải ống kính nào cũng có thể sử dụng chung với tube. Có nhiều ống khi gắn tube sẽ cho ảnh bị cong, méo ở bốn góc, mất nét rìa…Thường thì chỉ nên sử dụng cho tiêu cự 50mm trở lên.
Một cách đẩy hệ thống thấu kính ra xa mặt film là dùng Extension Bellow:

5. Dùng Tele Converter: Một cách khác để phóng ảnh là sử dụng Tele Converter. TC là một hệ thống thấu kính cho phép tặng tiêu cự của ống kính lên. Độ phóng đại tính trên số lần phóng đại của TC: 1.4x; 1.7x; 2x; 3x … Có nghĩa là nếu dùng ống 105mm với TC 2x, ta có một hệ thống OK 210mm.

Giống như Tube, một đầu TC cũng gắn vào thân máy, đầu kia gắn vào OK. Dùng TC cũng bị mất khẩu như TUBE. Ở TC 1.4x và 1.7x (1.7 chỉ có ở Nikon) chúng ta bị mất 1 khẩu và ở TC 2x chúng ta mất 2 khẩu.

Ảnh chụp với OK và TC sẽ bị mất chi tiết và mờ hơn là dùng OK và Tube vì ánh sáng phải đi qua hệ thống thấu kính của T

C. Chất lượng ảnh cũng còn tuỳ thuộc vào chất lượng và sự tương thích của TC. Dĩ nhiên là đồng bộ OK và TC là tối ưu.
Với loại máy P&S cũng có TC. Nhưng để gắn TC, phải dùng thêm một adapter nối nữa. TC này nằm ngoài OK và cũng có tác dụng phóng ảnh.

5 bí mật giết chết nội dung tiếp thị

Bài viết sưu tầm.

Source: http://www.bmg.edu.vn/vn/bai-viet-hay/tiep-thi—marketing/5-bi-mat-giet-chet-noi-dung-tiep-thi/668/1

1. “Khách hàng quan tâm tới danh tiếng công ty của tôi!”

Không. Họ chỉ quan tâm tới những lợi ích sản phẩm hay dịch vụ bạn mang lại khi quyết định móc hầu bao để sở hữu chúng. Họ cũng chẳng thèm quan tâm tới việc bạn là thành viên của phòng thương mại địa phương hơn 20 năm trời hay thành viên ban quản trị của bạn là ai (hãy vui lòng đừng đưa những thông tin này vào các tư liệu tiếp thị). Họ chỉ muốn biết nhu cầu của mình có được đáp ứng đầy đủ hay không. Do đó, mục tiêu của nội dung tiếp thị là thuyết phục khách hàng rằng những sản phẩm hay dịch vụ bạn đang cung cấp sẽ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ, thậm chí bạn còn phải tạo ra nhu cầu. Nói cách khác, nội dung tiếp thị cần phải lột tả cho họ thấy những lợi ích thiết thực nhất. Nếu bạn đã kinh doanh được trên 10 năm, điều này thật tuyệt, nhưng họ sẽ chẳng thèm quan tâm đâu, họ chỉ muốn biết là bạn có thể làm gì để mang lại cho cuộc sống của họ dễ chịu và thoải mái hơn. Đây là những thông điệp bạn cần nhấn mạnh nếu muốn viết nội dung tiếp thị một cách hiệu quả.

2. “Chỉ cần sử dụng một nội dung duy nhất!”

Không. Nội dung này cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với kênh truyền tải thông tin. Ví dụ đối với các biển quảng cáo ngoài trời khi mà người đi đường chỉ có vài giây để nhìn lướt qua chúng, thông điệp cần phải ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Tuy nhiên khi bạn gửi thư quảng cáo cho những khách hàng đã có yêu cầu, nội dung cần phải chi tiết và trả lời được những thắc mắc của họ. Đồng thời cần tạo ra sự hối thúc để tăng tỉ lệ phản hồi.

3. “Sử dụng cùng một nội dung cho tất cả mọi người!”

Đây không phải là một ý định hay. Nội dung cần được soạn thảo phù hợp với từng nhóm đối tượng người nhận, việc này phụ thuộc các yếu tố liên quan tới hành vi người nhận, họ đã từng sử dụng sản phẩm hay chưa,… Ví dụ nội dung thư giới thiệu được gửi cho khách hàng đã từng sử dụng sản phẩm, dịch vụ sẽ khác nội dung thư giới thiệu gửi tới nhóm khách hàng tiềm năng. Hai đối tượng này rõ ràng có sự khác nhau: một là đã từng sử dụng sản phẩm, dịch vụ và một thì chưa. Chính vì vậy, 2 nội dung này nên được soạn thảo khác nhau nhằm đặt được tỉ lệ trả lời cao nhất có thể.

4. “Lời lẽ cần phải chuyên nghiệp!”

Không hẳn lúc nào cũng cần. Ngôn ngữ và giọng điệu sử dụng cần phải phù hợp với người đọc. Cụ thể, ngôn từ viết cho tuổi teen sẽ khác với ngôn từ dành cho những người trưởng thành. Hãy xem ví dụ của McDonald’s, gần đây thương hiệu này xuất hiện trên quảng cáo truyền hình với tên gọi là “Mickey D’s” thay vì “McDonald’s” với mục đích là tạo ra sự gần gũi hơn với khách hàng của họ. Cũng cần phải hạn chế sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành nếu bạn muốn người đọc hiểu được nội dung cần truyền tải. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể sử dụng thuật ngữ cho các mẫu quảng cáo khi chúng nhắm tới đối tượng là các doanh nghiệp.

5. “Viết nội dung tiếp thị cũng đơn giản thôi!”

Đừng bao giờ có suy nghĩ như thế. Viết nội dung tiếp thị là một công việc manh tính đặc thù. Nó không tuân theo các quy tắc viết lách mà bạn đã từng học. Nó dựa trên kiến thức về tâm lý, kinh doanh, sự am hiểu về sản phẩm, khách hàng, khả năng sáng tạo và thuyết phục cao. Không phải ai có khả năng viết tốt đều trở thành copy writer giỏi và ngược lại. Khi đã quyết định tự mình viết, bạn cần phải tìm hiểu và phân tích bản nháp trước khi chính thức đặt bút viết. Nếu quyết định thuê một copy writer, hãy nhớ rằng không phải copy writer nào cũng như nhau. Chỉ nên chọn những copy writer có kinh nghiệm và biết dành thời gian tìm hiểu về công việc kinh doanh cũng như khách hàng của bạn.

Chọn mua filter cho ống kính máy ảnh

Bài viết sưu tầm của tác giả Duy Luân. Sau khi đọc rất nhiều bài viết về filter thì mình thấy bài này ngắn gọn nhưng đầy đủ và dễ nhớ dễ hiểu nhất.

Source: http://www.tinhte.vn/threads/853415/

Sau khi đã có trong tay một chiếc máy ảnh DSLR và một số ống kính, đây là lúc bạn cần nghĩ đến việc mua một số kính lọc cần thiết cho việc chụp ảnh. Vậy kính lọc là gì? Có những loại kính lọc nào và chọn mua ra sao, bài viết này sẽ giúp bạn thực hiện điều đó dễ dàng hơn.

Kính lọc là gì?

Kính lọc (Filter) là một hoặc nhiều thấu kính, thường được lắp đặt phía trước ống kính của chúng ta nhằm bảo vệ ống kính hoặc tăng chất lượng ảnh. Một số lớp tráng (coating) sẽ được thêm vào bên trên các tấm kính đó tùy theo loại kính lọc và mục đích sử dụng của nó. Các lớp tráng này còn có công dụng chống trầy cho kính lọc.

Trên viền kim loại của kính lọc có ghi một số thông tin về nhà sản xuất, kích thước, loại kính lọc để người sử dụng biết và lựa chọn cho thích hợp với mục đích sử dụng của mình. Viền này có thể làm bằng nhôm hoặc đồng thau và chịu lực tốt, giúp bảo vệ cho kính lọc khi có va chạm. Màu đen thường thấy trên các viền kim loại là để hạn chế việc phản xạ ánh sáng và giảm quang sai.

Một số lưu ý khi chọn mua kính lọc

Thông thường, có hai cách để gắn kính lọc vào ống kính: dùng rãnh xoắn ốc hoặc chỉ đơn giản là gắn vào phía trước. Loại gắn phía trước có độ linh hoạt cao hơn và thích hợp với nhiều đường kính của ống, tuy nhiên việc giữ nó trước ống kính sẽ vất vả hơn, đôi khi bạn phải một tay cầm máy chụp, một tay giữ kính lọc nữa. Trong khi đó, kính lọc dạng gắn theo rãnh xoắn vào ống kính sẽ chắc chắn hơn, đồng thời cũng tạo nên một lớp bảo vệ cho ống kính.

[IMG]
Kính lọc dạng gắn, có thể thay thế được của hãng Lee

Kính lọc dạng rãnh xoắn có thể tìm được rất nhiều tại các cửa hàng bán dụng cụ ảnh, và hãy xem kĩ đường kính ống kính của mình và chọn loại kính lọc có đường kính tương ứng thì bạn mới có thể gắn nó vào. Để biết kích thước ống, bạn hãy nhìn mặt trước hoặc bên hông của ống kính. Đơn vị đo của đường kính là milimét (mm) và thường trải dài từ 46mm đến 82mm.

[IMG]
Xem kính thước ống kính trước khi đi sắm kính lọc

Một số vòng đổi kích thước (adapter ring) cũng xuất hiện trên thị trường nếu bạn cần gắn một kính lọc lớn hơn hay nhỏ hơn đường kính của ống. Nhưng hãy cẩn thận khi sử dụng vòng đổi từ kích thước lớn sang nhỏ vì ảnh có thể bị viền đen do kính lọc đã chắn đường đi của ánh sáng.

[IMG]
Vòng đổi từ kính lọc 58mm sang 77mm

Độ dày của kính lọc cũng quan trọng, đặc biệt khi chúng ta dùng với ống góc rộng. Có một số loại kính lọc siêu mỏng được thiết kế để hạn chế tối đa hiện tượng viền đen, nhưng chúng thường khá đắt tiền và thường không cho phép gắn thêm kính lọc khác vào bên trên, thậm chí cả nắp ống kính cũng không thể dùng được.

Có những loại kính lọc nào?

[IMG]

Kính phân cực tuyến tính/vòng (LINEAR & CIRCULAR POLARIZING)

Kính lọc phân cực (thường được giới chơi máy ảnh gọi là “polarizers” hay “polarizing filter”) có lẽ là kính lọc quan trọng nhất cho việc chụp ảnh phong cảnh. Loại kính lọc này giảm cường độ ánh sáng chiếu vào cảm biến, tương tự như kính mắt polarize mà ta thường thấy bán ở ngoài cửa tiệm. Với kính lọc phân cực, trời sẽ trở nên xanh đậm hơn, độ tương phản giữa trời và mặt đất sẽ giảm đi, đồng thời loại bỏ hiện tượng loá và ảnh phản chiếu dưới nước, trong các tấm kính. Dưới đây là ví dụ của cùng một bức ảnh được chụp có kính lọc phân cực (bên trái) và không có kính lọc phân cực (bên phải).

[IMG] [IMG]

Bạn có thể thấy rằng với kính lọc phân cực, bầu trời trở nên xanh đậm hơn, màu sắc của những tảng đá nằm góc dưới cũng đậm hơn, chân thực hơn. Hiệu ứng do kính lọc mang lại có thể thay đổi khác nhau nếu bạn xoay nhẹ kính lọc ở các góc khác nhau. Bạn có thể nhìn trực tiếp vào ống ngắm hay màn hình LCD đã nhận thấy sự thay đổi đó. Ngoài ra, hiệu ứng còn tăng hay giảm phụ thuộc vào vị trí của máy ảnh và vị trí của mặt trời. Hiệu ứng mạnh mẽ nhất khi máy ảnh được được đặt vuông góc với hướng ánh sáng tới của mặt trời. Điều này có nghĩa là nếu mặt trời ở đỉnh đầu của chúng ta thì hiệu ứng sẽ đạt cực đại nếu ta chụp một đối tượng nào đó theo phương ngang.

[IMG]
Ảnh bên dưới có dùng kính lọc phân cực, giúp giảm đi hiện tượng lóe do ánh nắng mặt trời và ta có thể thấy rõ hơn chi tiết bên trong của chiếc xe

Tuy nhiên, kính lọc phân cực cần phải được dùng cẩn thận vì chúng có thể tạo hiệu ứng không đẹp cho bức ảnh. Vì giảm độ sáng vào cảm biến (khoảng 2 đến 3 stops, tức 1/4 hoặc 1/8 cường độ sáng) nên cần tinh chỉnh lại các thông số về khẩu, tốc và ISO cho thích hợp. Trong một số trường hợp cụ thể, bức ảnh sẽ không thể chụp được với kính lọc phân cực. Bên cạnh đó, khi dùng kính lọc phân cực với ống kính góc rộng có thể làm bầu trời không thực lắm do có một số điểm đen quá nhiều.

Có hai loại kính lọc phân cực là loại tuyến tính (Linear) và loại vòng (Circular – CPL). Loại kính lọc phân cực vòng được thiết kế để hệ thống tự động lấy nét của máy ảnh vẫn có thể hoạt động được. Loại tuyến tính có giá thành rẻ hơn nhiều, tuy nhiên máy ảnh có hệ thống đo sáng TTL (Through-The-Lens) và lấy nét tự động sẽ không hoạt động được, đồng nghĩa với hầu hết máy DSLR hiện nay sẽ trở nên vô dụng. Khi đó, người dùng buộc phải tự lấy nét và đo sáng bằng tay.

[IMG]
Một bức ảnh chụp bằng kính lọc CPL

Kính lọc mật độ sáng tự nhiên (NEUTRAL DENSITY)

[IMG]

Kính lọc Neutral density (ND) chủ yếu làm giảm cường độ sáng đến cảm biến của máy ảnh, hữu dụng khi ta cần chụp ảnh có thời gian phơi sáng dài dưới nguồn ánh sạng mạnh. Những hoàn cảnh mà ta có thể dùng loại kính lọc này đó là:

  • Chụp chuyển động mượt mà của thác nước, dòng sông, biển,…
  • Tạo trường lấy nét (Depth of Field – DOF) sâu hơn dưới cường độ sáng rất mạnh.
  • Giảm việc mờ ảnh do ta có thể sử dụng khẩu độ nhỏ hơn nhiều.
  • Khiến cho những đối tượng đang chuyển động dễ nhìn hơn, không bị mờ.
  • Làm cho bánh xe, bóng người,… mờ mờ theo hiệu ứng chuyển động.
[IMG]
Cần dùng kính lọc ND để giảm cường độ sáng và tăng thời gian phơi sáng để ghi lại chuyển động của nước

Kính lọc ND chỉ nên dùng khi thật cần thiết bởi vì cường độ ánh sáng bị giảm đi rất nhiều, nhiều hơn so với kính lọc phân cực. Nếu muốn chụp ảnh chuyển động (cần có tốc độ nhanh), ảnh cần có trường lấy nét mỏng (khẩu độ lớn) thì không thích hợp. Một số biến dạng về màu sắc rất có thể sẽ xảy ra khi chùng ta dùng kính lọc ND.
Khi chọn mua kính lọc ND, chúng ta cần tham khảo qua độ giảm sáng của chúng. Những nhà sản xuất khác nhau nhau có những kí hiệu khác nhau, mời bạn tham khảo bảng sau:

[IMG]

Bảng bên trên là thông số về độ giảm sáng mà chúng ta thường dùng nhất. Vẫn có một số kính lọc ND có độ giảm lớn hơn nữa nếu bạn quan tâm. Hầu hết những người chụp ảnh sẽ đem theo một hoặc hai kính lọc ND khác nhau khi đi tác nghiệp.

Kính lọc độ sáng theo vùng (GRADUATED NEUTRAL DENSITY)

Kính lọc GND cũng có tính năng làm giảm lượng ánh sáng khi chụp ảnh, nhưng khác với kính lọc ND, GND chỉ giảm sáng ở một phần nào đó chứ không phải là toàn bộ bức ảnh. Những cảnh có thể chụp được khi sử dụng kính GND là khi có ánh sáng phân bố đơn giản theo một dạng hình học nào đó. Trong hình bên dưới, bạn có thể thấy được sự chuyển màu từ sáng sang tối dần theo chiều dọc.

[IMG]
Một kính lọc GND

Thông thường, người dùng máy ảnh số thường để độ phơi sáng khác nhau cho cùng một bức ảnh, sau đó ghép lại bằng Photoshop để có thể bảo toàn chi tiết trong tất cả những vùng từ sáng đến tối, giống như kĩ thuật tạo ảnh HDR. GND cung cấp tính năng hệt như vậy nhưng không cần tới bất kì phần mềm nào. Kính lọc GND không thích hợp để chụp các chuyển động nhanh hay ánh sáng thay đổi liên tục.

Kính lọc GND có hai “cấu hình” mà ta cần quan tâm khi chọn mua. Cách quan quan trọng nhất là xem việc chuyển đổi từ vùng tối sang vùng sáng nhanh như thế nào, thường được gọi bằng thuật ngữ “Soft Edge” hay “Hard Egde”. Kính lọc dạng “Soft Edge” cung cấp sự chuyển đổi từ sáng sang tối một cách từ từ, trong khi đó bạn có thể thấy được sự chuyển đổi rạch ròi giữa nền sáng và tối của kính lọc dạng “Hard Edge”. Loại kính lọc “Radial Blend” lại cho kết quả tối dần từ ngoài vào trong bức ảnh theo mức độ chuyển gradient. Sử dụng Soft Edge tương đối dễ dàng hơn do việc chuyển đổi sáng/tối nhẹ nhàng, do đó những sơ suất trong quá trình tìm đặt vị trí có thể bỏ qua. Với kính lọc Hard Edge, bạn cần phải quan sát và chọn vị trí một cách chính xác, nếu không vách ngăn sáng tối quá rõ ràng có thể làm hỏng bức hình của chúng ta. Ngoài ra, khi sử dụng kính lọc GND, chúng ta còn phải xem tốc độ thay đổi ánh sáng của đối tượng để có những điều chỉnh phù hợp với vị trí của phần sáng/tối trên kính lọc.

[IMG]

Khi chọn mua kính lọc GND, bạn sẽ thấy được hình vẽ minh họa về mức độ chuyển màu của từng loại kính trên trang chủ của nhà sản xuất do không có một chuẩn chung về việc chuyển sáng/tối. Khi trực tiếp ra tiệm, bạn có thể cầm kính lọc lên và soi dưới ánh đèn để xem đó có phải là loại kính lọc mà ta cần tìm hay không.

Yếu tố thứ hai mà bạn cần để tâm đó là mức độ khác biệt về lượng ánh sáng đi qua giữa hai phần sáng/tối của kính lọc. Sự khác biệt này cũng được diễn tả bằng những thông số về độ giảm f-stop (khẩu độ) hay dạng phân số tương tự như kính lọc ND. Ví dụ, một kính lọc “0.6 ND grad” sẽ giảm độ sáng đi 2 khẩu (1/4 lượng ánh sáng) đi vào phần tối so với phần sáng. Hầu hết các ảnh phong cảnh nên có độ giảm từ 1-3 khẩu là vừa.

Kính lọc UV/Sương mù

[IMG]
Một kính lọc UV siêu mỏng gắn trên một ống kính Canon

Ngày nay, kính lọc UV thường được dùng để bảo về những thành phần thấu kính ở mặt trước của ống kính bởi vì kính lọc dạng này có độ giảm sáng không đáng kể, ảnh trong trẻo và không tạo nên hiệu ứng đặc biệt nào. Đối với máy phim, kính lọc UV giúp giảm mờ do sương mù và tăng độ tương phản do giảm lượng tia cực tím chiếu vào phim. Với máy ảnh số, cảm biến không quá nhạy với tia cực tím nên tính năng UV hầu như không cần thiết.

Những kính lọc nhiều lớp (multicoating) sẽ giúp hạn chế hiện tượng lóe do nguồn sáng mạnh cũng như hạn chế đến mức thấp nhất việc thay đổi chất lượng ảnh. Việc thay thế một kính lọc bị trầy xước sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với một ống kính đắt tiền bị trầy, do đó người ta thường mua kèm một kính lọc UV ngay sau khi sắm một ống kính cho mình. Với những ống rẻ tiền hơn, việc quyết định có mua kính lọc UV hay không thì tùy thuộc vào ý kiến cá nhân mà thôi, không quan trọng lắm. Nhờ việc bảo vệ tốt hơn nên nếu bạn muốn bán lại ống kính của mình thì sẽ được giá cao hơn. Anh [MENTION=408]binhpt[/MENTION] đã có một bài dịch về cách sử dụng kính lọc UV rất chi tiết, mời bạn tham khảo tại đây.

Kính lọc màu ấm/lạnh

[IMG]

Kính lọc dạng này sẽ thay đổi cân bằng trắng của ánh sáng đến với cảm biến của máy ảnh. Bạn có thể dùng kính lọc màu để cho ra màu sắc chính xác hơn của một đối tượng, thêm một chút ấm áp cho ảnh phong cảnh của một ngày có mây, tô đậm vẻ đẹp cho cảnh đèn ban đêm,…

Ví dụ, ánh sáng được lấy từ đèn cao áp bên đường. Với nguồn sáng dạng này, các máy ảnh hay trình chỉnh sửa ảnh thường khó có thể cho ra màu chính xác, do đó việc dùng một kính lọc màu lạnh có thể phục hồi lại màu sắc nguyên vẹn của phong cảnh. Những kính lọc dạng này thật ra cũng không quá cần thiết bởi người dùng có thể chụp ảnh RAW và chỉnh lại sau đó. Nếu có ý định chụp dưới nguồn sáng lạ, chụp ảnh dưới nước hay giảm nhiễu do màu sắc thì chúng ta mới nên dùng loại kính lọc màu.

Ngoài ra, kính lọc màu còn có thể được dùng với chức năng tương tự như kính lọc GND khi có thể chỉ áp dụng màu cho một vùng trên ảnh, vùng còn lại để ánh sáng tự nhiên. Những kính lọc màu dạng này có thể thay thế được màu sắc và thường có giá khá cao.

Kính lọc tạo hiệu ứng sao

[IMG]

Khi xem TV, bạn có thường thấy những cảnh quay sân khấu, ánh đèn hay ánh nến thường có nhiều vệt lóe rất dài, hướng ra nhiều phía? Đó chính là do kính lọc sao đấy. Kính lọc sao sẽ giúp tạo hiệu ứng lung linh cho bức ảnh mà không đòi hỏi người chụp phải khép khẩu độ quá nhỏ. Một số kính lọc sao còn có thể xoay được để chúng ta tự điều chỉnh hướng lóe cho tia sáng.

Kính lọc macro/close-up

Nếu không có trong tay một ống kính chụp macro chuyên dụng, chúng ta vẫn có thể dùng một kính lọc với chức năng tương tự: phóng đại ảnh. Tất nhiên, kính lọc macro/close-up không thể cho chất lượng tốt như một ống kính macro, nhưng các này tương đối hữu dụng khi bạn không muốn chi tiền mua một ống kính mới hoặc ống kính hiện tại cho chất lượng ảnh rất tốt. Kính lọc macro/close-up được phân biệt bởi độ diop, trải dài từ +1 cho đến +10. Chỉ số diop càng cao thì độ phóng đại của vật thể càng lớn. Những kính lọc dạng này thường có mặt kính hơi cong một chút. Người dùng có thể tìm được những kính lọc macro/close-up bán theo bộ gồm có 3, 5 hay 7 kính lọc có độ diop khác nhau để tiện thay thế khi sử dụng.

[IMG]
Sự thay đổi hình ảnh tương đương với độ diop của kính lọc close-up

Những vấn đề với kính lọc

[IMG]

Kính lọc chỉ nên dùng khi thật sự cần thiết bởi vì đó thật chất là một mảnh kính gắn thêm vào ống kính của chúng ta, do đó ít nhiều làm giảm đi chất lượng ảnh, chẳng hạn như làm xuất hiện độ sai màu, giảm độ tương phản một phần hay toàn bộ bức ảnh, hiện tượng bóng ma (do kính lọc bị bẩn) hay chói do sự phản chiếu bên trong hệ thấu kính của kính lọc. Hiện tượng viền đen cũng có thể xuất hiện nếu kính lọc chắn đường đi của ánh sáng vào ống kính. Trong trường hợp cụ thể thì đó là khi ta gắn một kính lọc phân cực bên trên một kính UV trong khi dùng ống góc rộng. Càng gắn nhiều kính lọc lên ống kính thì càng có nhiều hiệu ứng xảy ra, và chắc chắn chất lượng giảm theo tỉ lệ thuận.

Tìm hiểu về len Carl Zeiss T*

Bài viết sưu tầm. Một bài viết rất hay về T*. Xin được cảm ơn tác giả. ^^

Source: http://www.4thcafe.com/2011/10/29/zeissze/#tabber_tags_posts

Carl Zeiss vừa giới thiệu ống kính 2/25 T* với giá dự kiến khoảng $1700 – đắt hơn ống kính cùng tiêu cự của Canon – làm cho các fan cuồng Việt Nam và những người-chơi-máy-ảnh-ít-hiểu-biết băn khoăn đôi chút. Bài viết này sẽ tóm tắt những thông tin cơ bản nhất giúp bạn hiểu tại sao Carl Zeiss lại đáng giá đến thế.

Internet giúp một số người nhận ra rằng mình biết quá ít và cũng khiến một số khác tưởng rằng họ biết tất cả. Nhưng dù bạn có thuộc nhóm nào thì cũng nên đọc qua lịch sử của Carl Zeiss trước khi đọc phần tiếp theo.

Nếu bạn không hiểu tiếng Anh và cũng không biết dùng Google Translate thì chỉ cần nhớ rằng, khi người Nhật Bản manh nha nghĩ tới việc sản xuất máy ảnh thì Carl Zeiss đã là “trùm” trong ngành sản xuất quang cụ.

1. T* nghĩa là gì?

T* (đọc như tee-star), là viết tắt từ transparent (trong suốt). Zeiss dùng thuật ngữ này để chỉ lớp tráng phủ (coating) ống kính của mình với hàm ý lớp tráng này trong suốt, cho 100% ánh sáng đi qua, vừa giảm các lỗi quang học (như tán xạ, phản chiếu,…) vừa làm ảnh sáng hơn, vừa cho màu trung thực hơn và tương phản cao hơn.

2. Chất lượng quang học của ống kính  T*

Nhìn chung, các tay chơi máy lâu năm trên các diễn đàn hoặc blog cá nhân đều đồng tình rằng Zeiss cho tông màu ấm hơn Canon và Nikon, thiên về sắc đỏ-hồng-tím. RENDERING/DRAWING (tôi không dịch sang tiếng Việt hai thuật ngữ này) của ống kính Zeiss nói riêng và ống kính Đức nói chung được đánh giá cao, thường tạo chiều sâu không gian hơn so với ống kính của Nhật Bản (tuy nhiên, vấn đề này thuộc về sở thích nên mỗi người sẽ có đánh giá khác nhau).

Ống kính Zeiss 2.8/21 T* được thừa nhận là nét nhất trong tiêu cự của nó (khoảng 20-24mm) và vượt xa cả ống kính Leica R tương đương. Nó được đánh giá là ngang tầm với ống kính 3,4/21 ASPH cho máy Leica M (nên nhớ rằng ống kính góc rộng của hệ máy rangefinder tốt hơn rất nhiều so với ống góc rộng của hệ SLR).

Một vài ống kính mới cũng được đánh giá rất cao về mọi mặt, chẳng hạn như 2/100 T* Macro (vừa có khẩu lớn, nét hơn cả đối thủ từ Leica và rẻ hơn nhiều).

Bokeh của Zeiss được đánh giá rất cao. Chúng ta sẽ thường gặp cụm từ “creaming bekeh” trên các diễn đàn bàn về T*. Nhưng bokeh luôn luôn là sở thích cá nhân nên không thể nói tất cả mọi người đều hài lòng với Carl Zeiss ở khoản này.

Tuy nhiên, Carl Zeiss chưa bao giờ đứng đầu về độ nét của ống kính. Rất nhiều ống kính Zeiss T* thua đối thủ cùng tiêu cự của Canon hay Nikon về độ nét. Nhưng những người quan tâm tới việc chụp ảnh (thay vì chơi thiết bị) đều hiểu rằng độ nét chưa bao giờ là yếu tố quan trọng nhất trong nhiếp ảnh.

3. Chất lượng vỏ (build)

Ống kính T* hiện nay do hãng Cosina của Nhật lắp ráp theo thiết kế của Carl Zeiss. Chất lượng vỏ được đánh giá là gần như ngang ngửa với Leica và vượt xa Canon, Nikon, Pentax, Sony,… Các chữ số và ký hiệu được khắc chìm lên thân ống kính, không sợ bị tróc sơn như sản phẩm của nhiều hãng khác.

Ống T* ngàm ZE (cho Canon) được cho là chắc chắn hơn so với sản phẩm cùng loại ngàm ZF, ZK và tương đương với ngàm ZF.2. Ngàm ZF.2 vừa có chip điện tử để chỉnh khẩu độ trên thân máy (có thể tăng giảm từng 1/3 khẩu) vừa có vòng khẩu độ trên thân ống kính, rất tiện lợi cho người thích quay phim.

Một vài nghệ sĩ có tiếng trên internet, nhất là Ken Rockwell, cho rằng ống kính T* đời mới hoạt động không tốt trong điều kiện thời tiết giá lạnh vì vòng lấy nét làm bằng kim loại, rất khó điều khiển bằng tay trần khi nhiệt độ quá thấp (dưới 0 độ C) – nhưng có ai đảm bảo rằng chip điện tử hoạt động tốt để lấy nét chính xác trong những điều kiện như vậy?

4. Khiếm khuyết của Zeiss T* mới

Không có cái gì là hoàn hảo, kể cả ống kính Zeiss T*. Một số thử nghiệm chỉ ra rằng độ tương phản cao của ống kính T* trong vài trường hợp làm cho ảnh bị mất chi tiết nhưng về cơ bản, đây vẫn là một thế mạnh của Zeiss, nhất là trong điều kiện ánh sáng yếu hay khung cảnh có độ tương phản thấp.

Hầu như mọi ống kính của Carl Zeiss hiện nay đều có hiện tượng field curvature. Hiện tượng này rất dễ phát hiện khi mở khẩu lớn và chụp mặt phẳng như bức tường, phần tường ở tâm ảnh nét thì phần ở rìa ảnh mờ, phần ở rìa nét thì tâm lại mờ. Nhưng các tay máy chuyên nghiệp thường có những cách để tận dụng nó này để tăng độ nét cho bức ảnh. Cách hạn chế rất đơn giả: khép khẩu.

Cũng phải nói thêm rằng đây là một hiện tượng rất phổ biến. TẤT CẢ ống kính 50mm đều có field curvature (kể cả Leica), chỉ khác nhau ở dạng cong của trường nét mà thôi (có ống kính “cong” về phía trước, cũng có ống kính lại “cong” kiểu lượn sóng).

Ống normal và tele T* hiện nay cũng gặp lỗi focus shift. Giả sử ta mở ống kính 1.4/85 hết khẩu (f/1.4) và lấy nét tại đó rồi khép xuống f/4 chẳng hạn thì trường ảnh sẽ tăng lên đáng kinh ngạc (ví dụ trường nét từ 1m tăng lên thành gần 100m) – tham khảo thêm tại blog Lloyd Chambers (chuyên gia hàng đầu về T* hiện nay).

Cách khắc phục cũng đơn giản: chụp ở khẩu nào thì mở sẵn khẩu đó và lấy nét tại đấy luôn. Ví dụ, muốn chụp ở khẩu 4 thì khép luôn 4 rồi chụp chứ đừng mở 1.4 (hơi khó chịu khi ánh sáng yếu vì mọi người sẽ muốn mở hết khẩu để viewfinder sáng hơn).

Những người thích chụp phong cảnh có thể sẽ muốn phàn nàn về hiện tượng vignette (tối ở bốn góc ảnh) của ống kính T* hiện nay nhưng những người chụp đời sống (trong đó có tôi) lại rất thích hiện tượng này. Rất may là các phần mềm xử lý ảnh hiện nay hầu hết đều đã có tính năng sửa vignette theo profile thiết lập sẵn cho từng ống kính nên đây cũng không còn là vấn đề. Tương tự với một số lỗi quang học khác như “viền tím” hay “color bokeh”.

Lấy nét cũng là một vấn đề lớn với ống kính T* mới vì tất cả đều báo nét không thực sự chuẩn xác (kể cả Canon, Nikon và Pentax). Điều này do chính Lloyd Chambers thử nghiệm và khẳng định. Cách khắc phục là mua thêm focus screen, lắp kính phóng đại cho viewfinder và tất nhiên là tập lấy nét tay.

Trong mọi trường hợp, LiveView là giải pháp tốt nhất để lấy nét với ống kính T*.

5. Tại sao lại chỉ có ống MF mà không có AF cho Canon, Nikon, Pentax?

Vì Sony và Zeiss ký thỏa thuận với nhau và vì Zeiss không ký được thỏa thuận với các hãng kia. Nếu muốn đưa motor lấy nét tự động vào, Zeiss sẽ phải làm cái việc được gọi là reverse engineering, tức là mày mò xem máy ảnh Canon/Nikon lấy nét ra sao rồi mới thiết kế hệ thống lấy nét cho ống kính. Điều này tất nhiên là tốn kém cả thời gian lẫn tiền bạc mà hiệu quả thì hạn chế.

Nhưng lấy nét tay có lợi thế của riêng nó và bởi vậy, dòng ống kính này được dân quay phim ưa chuộng hơn hẳn ống kính tự động. Lý do sẽ được trình bày ngay dưới đây.

6. Tại sao Zeiss T* phù hợp để quay phim?

Ảnh động với ảnh tĩnh là rất khác nhau. Khi xem phim, chúng ta thường gặp những cảnh quay thay đổi điểm lấy nét (ví dụ, cảnh các nhân vật đang ngồi nói chuyện thì điện thoại reo – ban đầu máy quay lấy nét ở các nhân vật, sau đó chuyển dần nét sang chiếc điện thoại ở xa). Nghe thì quá dễ: xoay cái vòng lấy nét là xong chứ gì ! Rất tiếc là đời không đơn giản vậy.

Ống kính nói chung có một bệnh gọi là BREATHING (dịch nôm na là “thở”). Hiện tượng này có thể mô tả đơn giản như sau: khi ta thay đổi điểm lấy nét thì TIÊU CỰ của ống kính thay đổi theo. Có thể tìm được rất nhiều ví dụ minh họa trên YouTube qua từ khóa “lens breathing”.

Trong ảnh tĩnh thì breathing chẳng có ảnh hưởng gì (có ai thấy được đâu). Nhưng trong ảnh động thì khác: hãy tưởng tượng là đang xem phim mà tự dưng khung hình cứ zoom ra zoom vào thì khó chịu tới mức nào. Ống kính của Zeiss hơn hẳn sản phẩm của Canon, Nikon ở khoản này.

Ngoài ra, vòng lấy nét của Zeiss được thiết kế tốt hơn rất nhiều. Cộng thêm các thiết bị hỗ trợ thì người quay phim có thể chuyển nét cực kỳ mượt và chính xác. Ống kính máy ảnh tự động thông thường không thể nào so được.

Tiếp theo – và không kém phần quan trọng – là Zeiss cân chỉnh toàn bộ dòng lens của mình để cho ra màu sắc gần như tương đồng 100%. Điều này cũng rất đáng kể trong quay phim. (Hãy tưởng tượng tiếp: Nhìn một chùm ảnh mỗi tấm một tông màu hẳn là khá khó chịu rồi. Xem phim mà mỗi cảnh một tông thì còn ngứa mắt hơn nữa.)

Cũng chính việc phải cân chỉnh cho các ống giống nhau như vậy mà chi phí sản xuất tăng thêm nhiều (cần máy móc xịn và có các công đoạn kiểm tra thủ công).

7. Ống T* nào đáng mua?

Tất cả đều đáng mua nhưng nên lựa chọn tiêu cự và khẩu độ phù hợp với mục đích sử dụng.

Distagon 3.5/18: Nhanh hơn nửa khẩu so với đời cũ (ngàm C/Y), chất lượng được cải thiện nhiều, mắc bệnh chung của ống góc rộng là lóa và viền tím nếu mở hết khẩu, là ống rộng nhất của Zeiss hiện nay và chắc chắn vẫn là lựa chọn số một nếu muốn rộng hơn 20mm (Zeiss có thiết kế ống 2.8/15 và có thể sẽ ra trong một vài năm tới nhưng giá của nó thì…). Nhược điểm là hơi to (phi 82), như vậy thì không dùng chung filter với các lens khác được. Phù hợp nhất cho thể loại phong cảnh.

Distagon 2.8/21: Vô đối về độ nét và màu sắc, tất nhiên là nên khép khẩu để đạt chất lượng tối đa. Phi 72 nên dùng chung được filter với vài lens khác. Điểm dở là tiêu cự hơi lỡ cỡ một chút nhưng đây luôn luôn là một siêu sao trong làng ống kính, không phải nghi ngờ. Phù hợp nhất cho ảnh phong cảnh.

Distagon 2.8/25: Nét kém nhất trong dòng T*, field curvature nặng nhất và vignette tệ nhất, nhưng bù lại thì rất nhẹ nhàng gọn gàng, có thể lấy nét rất gần (7cm). Có thể dùng cho mọi thể loại ảnh, trừ macro, nhưng đòi hỏi khả năng sáng tạo cao ở người sử dụng.

Distagon 2/25: Khi tôi bổ sung những dòng này vào bài thì chiếc ống kính bị trì hoãn gần 2 năm trời đã có mặt trong các cửa hàng và nếu bỏ qua vấn đề lấy nét thì nó đang là chiếc ống kính 25mm tốt nhất cho một chiếc máy DSLR mà chúng ta có thể có được.

Distagon 2/28: Đây là tiêu cự tiêu chuẩn của ảnh báo chí – đời sống trước khi có những ống kính 24mm khẩu lớn như 24/1.4L của Canon. Khẩu lớn, lấy nét dễ, chất lượng hơn xa 2.8/25 (về độ nét là chính). Bệnh field curvature cũng khá nặng nên phải cẩn thận khi dùng. Phù hợp cho mọi thể loại, trừ macro.

Distagon 2/35: Tiếp tục là một ống nhỏ gọn, nét ơi là nét và giá không quá “chát”. Cái hay (và dở) của ống này là nó ở giữa giữa về mọi mặt: tiêu cự vừa vừa, méo vừa vừa, vignette vừa vừa,… Phù hợp cho mọi thể loại, trừ macro.

Distagon 1.4/35: ”Goliath” của dòng T* hiện nay. Chất lượng tuyệt hảo ngay cả khi mở hết khẩu – nói ngắn gọn là đắt xắt ra miếng. Nhược điểm là hơi to và nặng (và đắt, đương nhiên). Phù hợp cho mọi thể loại, trừ macro.

Planar 1.4/50: Ống kính tiêu chuẩn. Rẻ nhất. Dễ chụp nhất. Tốt trên cả máy crop lẫn fulframe. Phù hợp cho mọi thể loại, trừ macro.

Makro-Planar 2/50: Đang là ống kính đa dụng nhất của Zeiss. Có thể dùng cho mọi thể loại từ phong cảnh đến macro, từ chân dung studio đến đời thường nhếch nhác. Nhược điểm duy nhất là đắt gấp đôi 1.4/50 và “hoành tráng” quá mức kỳ vọng.

Distagon 1.4/85: Chẳng có hãng nào không làm được ống 85mm tốt cả. Nhưng Zeiss thì làm được một chiếc 85mm xuất sắc. Điểm yếu của nó là bị bệnh focus shift và khó lấy nét chính xác ở f/1.4 (mà một chiếc ống kính không thể lấy nét chính xác thì chắc chắn là không nét rồi). Phù hợp cho mọi thể loại, trừ macro.

Makro-Planar 2/100: Huyền thoại mới. Chuyên gia Lloyd Chambers nói đây là chiếc ống kính 100mm tốt nhất mọi thời đại cho đến lúc này. Phù hợp cho mọi thể loại với độ nét và tương phản đáng kinh ngạc ở mọi khẩu độ.

8. Zeiss sẽ ra thêm ống gì?

Có lẽ sẽ không có ống kính zoom như thời ngàm C/Y. Một số ống kính có thể sẽ xuất hiện trong tương lai gần – theo dự đoán và kỳ vọng của tôi – là:

2.8/16 fisheye: Zeiss chưa có ống kính mắt cá nào mới và nhiều khả năng họ sẽ tung ra sản phẩm cạnh tranh với các hãng khác trong phân khúc này.

2.8/15:  Phiên bản ngàm C/Y cũ chậm hơn nửa khẩu độ từng được đánh giá rất cao nên có lẽ Zeiss sẽ giới thiệu trong thời gian tới để cạnh tranh với những ống kính như 14mm f/2.8 của Canon. Vấn đề là, theo xu hướng của các bản nâng cấp như Distagon 1.4/35 và Distagon 2/25 thì ống kính mới sẽ rất to, rất nặng và rất đắt. (đã giới thiệu vào tháng 3/2012)

2/85: Một ống kính nhỏ gọn (nên là phi 58) nữa. Hẳn là những người chuyên chụp phong cảnh sẽ thích. Chuyên gia Lloyd Chamber cho rằng sẽ có một ống kính tiêu cự 75mm và suy nghĩ của ông cũng rất có lý vì tiêu cự lạ cũng là một cách để “câu” khách.

2/135: Cũng là một ngôi sao thời C/Y. Thiết kế mới có thể sẽ tạo ra một chiếc ống kính hoàn hảo cho thể loại chân dung. Có người dự đoán sẽ có khẩu độ lớn hơn, cụ thể là f/1.8 nhưng tôi tin rằng Zeiss sẽ giữ truyền thống của mình với dòng T*, tức là họ sẽ không đưa ra các tiêu cự “phi truyền thống” như f/1.8. (đã giới thiệu vào tháng 9/2012)

55/1.0: Đây là kỳ vọng điên rồ nhất của tôi. Zeiss sẽ ra một phiên bản kỷ niệm với khẩu độ f/1.0 để đè bẹp Nikon và Nikon. Ống kính này, nếu xuất hiện, sẽ hầu như không có lỗi quang học (may ra có vignette và chắc chắn có field curvature), siêu nét, cực kỳ tương phản, màu sắc hoàn hảo và dĩ nhiên là đắt kinh hoàng (dù sao vẫn rẻ hơn Leica).

Bổ sung Feb 04, 2013:

Đánh giá hiệu ứng 3D trên các ống kính T* ngàm C/Y:

25/2.8 Distagon – Medium
28/2.8 Distagon – Very strong
35/2.8 Distagon – Medium
50/1.7 Planar – Very strong
50/1.4 Planar – Strong
60/2.8 Makro Planar C – Strong at closeups,medium at infinity
85/2.8 Sonnar – Strong
135/2.8 Sonnar – Strong
180/2.8 Sonnar – Strong
200/3.5 Sonnar – Medium
200/4 Sonnar -Low
35-70/3.4 Vario Sonnar – Strong
80-200/4 Vario Sonnar – Strong

(from photography-on-the.net forum)